Trẻ nhiễm virus hô hấp hợp bào nhập viện gia tăng đột biến vào thời điểm giao mùa.

Virus hợp bào hô hấp (RSV – Respiratory Syncytial Virus)

Thời điểm giao mùa (chuyển mùa) là lúc thời tiết thay đổi đột ngột cả về nhiệt độ, độ ẩm, điều này tạo điều kiện cho các vi khuẩn, virus phát triển. Vì thế, nhiều người dễ mắc bệnh, đặc biệt là với những ai có sức đề kháng kém.

Thời tiết thay đổi là môi trường lý tưởng cho các vi khuẩn, virus phát triển, những ai có sức đề kháng kém (trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người cao tuổi) hoặc những người đang mắc sẵn bệnh sẽ rất dễ mắc phải những căn bệnh dưới đây.

Theo trung tâm hô hấp (Bệnh viện Nhi Trung Ương) có 155 giường bệnh nhưng cả tháng nay luôn chật kín. Mỗi ngày các bác sĩ phải luân chuyển và tiếp nhận 25-30 trẻ , phần lớn trẻ mắc virus hợp bào hô hấp rất nguy hiểm.


Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết, thời tiết lạnh, ẩm thấp thường kèm với nguy cơ cao mắc bệnh cảm lạnh hoặc cúm. Đây là đợt cao điểm của các chứng bệnh như viêm họng, ho và sổ mũi.Virus tồn tại và sinh sôi nảy nở nhanh chóng ở điều kiện nhiệt độ thấp gây ra sự bội nhiễm cho con người. Thêm vào đó, thời tiết lạnh hơn có thể làm giảm phản ứng miễn dịch, đồng nghĩa với việc tăng nguy cơ mắc bệnh ở người - nhất là ở trẻ nhỏ.

Từ thời điểm giao mùa khoảng 1 tháng trở lại đây, tại phòng hồi sức trung tâm hô hấp (Bệnh viện Nhi Trung Ương), những em bé chỉ từ 1 đến vài tháng tuổiphải dùng liên tục truyền dịch và dùng máy thở oxy. Có tới 60 bệnh nhi phải thở oxy, dao động 3-5 trẻ phải thở máy không xâm nhập nên khối lượng công việc của các bác sĩ và điều dưỡng ở đây rất nặng nề. Họ liên tục phải để mắt đến những biểu hiện của trẻ nhằm đề phòng những biến chứng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung Ương, thời gian gần đây trẻ nhập viện do mắc các bệnh về đường hô hấp tăng đột biến, tập trung ở nhóm tuổi từ 1 - 3 tuổi.Phần lớn trẻ nhập viện với bệnh cảnh liên quan đến đường hô hấp như viêm mũi họng, phế quản, viêm phổi. Căn nguyên gây bệnh thường gặp là virus theo mùa như cúm A, virus hợp bào hô hấp... 

 Nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV – Respiratory Syncytial Virus) là gì?

  • Triệu chứng của bệnh nhẹ, giống như cảm lạnh. Tuy nhiên, bệnh có thể biến chứng thành nhiễm trùng phổi, đặc biệt nguy cơ cao ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người lớn tuổi và những người đang mắc các bệnh hô hấp mạn tính, hen phế quản, bệnh nền mạn tính… Bệnh nhân nhiễm RSV biến chứng nặng có nguy cơ tử vong, với tỷ lệ 2,8 – 22% trên toàn thế giới.

  • Hầu hết các trường hợp bị viêm tiểu phế quản, viêm phổi, viêm thanh quản, còn lại là những bệnh lý chuyên sâu hơn như viêm phổi, tràn dịch màng phổi, dị dạng đường thở… Bệnh tập trung vào lứa tuổi từ 1 tháng tuổi đến 15 tuổi. Trong đó các bệnh đường hô hấp ở trẻ mắc phải xử trí không quá phức tạp, kèm theo chế độ dinh dưỡng hợp lý trẻ sẽ mau khỏi bệnh. Đáng chú ý là bệnh viêm phổi nặng có suy hô hấp hầu hết là trẻ dưới 6 tháng tuổi. Với các trường hợp trẻ không được chăm sóc, điều trị viêm phổi kịp thời, trẻ có thể bị bội nhiễm kèm theo, nhiễm khuẩn huyết...nhất là những trẻ có bệnh nền nặng như tim bẩm sinh, loạn sản phổi, đẻ non, não bẩm sinh, suy dinh dưỡng… có yếu tố nguy cơ làm bệnh nặng khiến bệnh lâu khỏi, thời gian nằm viện dài sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ.

Virus RSV có 2 tuýp:

                  +  Tuýp 1: gây sốt cao, tiên lượng nặng

                  +  Tuýp 2: sốt nhẹ, thậm chí không sốt


Bệnh hô hấp thường tấn công trẻ em vào lúc giao mùa

 Vì sao nhiều trẻ nhỏ bị virus hợp bào hô hấp tấn công?

  • Có nhiều nguyên nhân gây viêm đường hô hấp, do vi khuẩn hoặc virus cho các bé, đăc biệt trong giai đoạn giao mùa như thời điểm này là khoảng thời gian không khí chuyển lạnh, ẩm hơn, ánh sáng mặt trời ít hơn làm cho virus sinh sôi nảy nở trong môi trường mạnh hơn.

  • Virus hợp bào hô hấp đi vào cơ thể qua mắt, mũi hay miệng, nó lây lan một cách dễ dàng qua các dịch tiết đường hô hấp bị nhiễm virus như ho, hắt hơi. Virus cũng được hít hay truyền cho người khác qua tiếp xúc trực tiếp, như bắt tay.

  • Virus RSV có thể sống nhiều giờ trên các vật dụng như bàn, đồ chơi,… Trẻ sẽ có khả năng nhiễm nếu vô tình chạm vào những đồ vật có chứa virus và đưa lên miệng. Vài ngày đầu sau khi bị nhiễm virus là thời gian lây nhiễm cao nhất, nhưng với virus hợp bào hô hấp thời gian lây lan kéo đến vài tuần sau khi bắt đầu bị nhiễm.

  • Một người khi bị nhiễm virus RSV có thể sau 2 - 8 ngày mới biểu hiện triệu chứng. Ở người lớn và trẻ khỏe mạnh, các triệu chứng sau nhiễm virus RSV thường nhẹ, giống cảm lạnh bình thường, vì thế có thể áp dụng cách chăm sóc tại nhà để giảm nhẹ.Các chuyên gia cũng cảnh báo, RSV có khả năng lây lan mạnh, nếu các gia đình chủ quan không cho con đi khám, không biết con đang nhiễm bệnh sẽ dễ khiến cho virus này phát tán rộng ra cộng đồng.

Tuy nhiên, có nhiều trường hợp nhiễm virus hợp bào hô hấp có thể nghiêm trọng đặc biệt là ở trẻ sinh non và trẻ sơ sinh có những vấn đề sức khỏe tiềm ẩn, gây viêm tiểu phế quản hoặc viêm phổi, suy thở nhanh, rất nguy hiểm cho trẻ.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc virus hợp bào: 

Có rất nhiều yếu tố nguy cơ lây nhiễm virus hợp bào hô hấp như:

  • Trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 6 tháng tuổi, sinh non, nhẹ cân, mắc bệnh tim bẩm sinh,… sức đề kháng kém, cấu hình đường thở chưa hoàn thiện nên dễ bị virus tấn công.

  • Trẻ tiếp xúc với khói thuốc thụ động hoặc người ở bất kỳ nhóm tuổi nào có hen đáng kể cũng có nguy cơ cao mắc RSV hơn những nhóm khác.

  • Trẻ đi nhà trẻ, gia đình có anh chị em bị nhiễm RSV hoặc vui chơi trong những khu đông người vào mùa RSV hoạt động

  • Người lớn tuổi mắc các bệnh lý nền, bệnh hen suyễn, suy tim sung huyết hoặc bệnh tắc nghẽn phổi mạn tính (COPD),…

  • Những người bị suy giảm miễn dịch, mắc bệnh bạch cầu hoặc HIV.


Điều dưỡng chăm sóc bé 3 tháng tuổi nhiễm virus hợp bào hô hấp phải thở oxy

Bố mẹ cần nhớ các triệu chứng khi trẻ mắc virus hô hấp hợp bào để có cách điều trị kịp thời cho con

  • RSV thường gây viêm phổi nặng ở trẻ sơ sinh (Trẻ bị sơ nhiễm lần đầu):

  • Có thể bắt đầu bằng sốt nhẹ, nghẹt mũi, hắt hơi.

  • Đa số bắt đầu bằng sốt cao, thay đổi tri giác.

  • Không uống được, bỏ bú, bú kém.

  • Các triệu chứng hô hấp: Ho tăng, khò khè, nhịp thở tăng, co lõm lồng ngực, ran ở phổi, nhanh chóng rối loạn thông khí, rối loạn nhịp tim... gây Suy hô hấp.

  • RSV có thể gây biến chứng nghiêm trọng khi viêm phổi, viêm tiểu phế quản ở trẻ sinh non, trẻ sơ sinh, trẻ có bệnh nền như tim bẩm sinh, trẻ suy giảm miễn dịch... tử vong cao.

Mức độ nguy hiểm của virus RSV

Thông thường, các ca nhiễm RSV có thể không nghiêm trọng nhưng trong một số trường hợp đặc biệt như trẻ sơ sinh, trẻ có hệ miễn dịch non yếu thì bệnh gây ra biến chứng khôn lường.

  • Viêm phổi và viêm tiểu phế quản: khi RSV di chuyển từ đường hô hấp trên xuống đường hô hấp dưới có thể gây ra viêm phổi hoặc đường thở của phổi (viêm tiểu phế quản) hay gặp nhất ở trẻ. Chính vì vậy, trẻ cần nhập viện điều trị hỗ trợ thở, truyền dịch và chăm sóc suy hô hấp.

  • Viêm tai giữa: Khi virus xâm nhập vào không gian phía sau màng nhĩ có thể gây nhiễm trùng tai giữa (viêm tai giữa). Biến chứng này thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

  • Bệnh hen suyễn: Nhiều nghiên cứu đã chứng minh trẻ nhỏ nếu bị nhiễm virus hợp bào hô hấp nghiêm trọng sẽ có nguy cơ phát triển bệnh hen suyễn khi trưởng thành.

  • Một số biến chứng nghiêm trọng khác về đường hô hấp như suy hô hấp, xẹp phổi, tràn khí màng phổi, ứ khí phổi…

“Virus RSV rất dễ gây suy hô hấp ở trẻ nhỏ, đặc biệt là ở trẻ dưới 6 tháng tuổi. Nhiều bệnh nhi nhiễm virus này kèm bệnh có bệnh cảnh nặng phải thở oxy. Có khoảng 20% trẻ sơ sinh bị viêm tai giữa và khoảng 30% trẻ bị hen suyễn sau khi bị viêm tiểu phế quản”



Nhiễm khuẩn hô hấp cấp do RSV có thể gây các biến chứng như:

  • Ngừng thở, đặc biệt ở trẻ < 2 tháng.

  • Xẹp phổi, đặc biệt trong Viêm tiểu phế quản ở trẻ < 3 tháng.

  • Bội nhiễm vi khuẩn: Nên dùng kháng sinh sớm ở trẻ nhiễm khuẩn hô hấp do RSV nặng vì không biết khi nào trẻ bị bội nhiễm vi khuẩn.

  • Hội chứng suy hô hấp cấp là biến chứng nặng.

  • Tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất ít gặp.*

  • Mất nước có thể gặp trong giai đoạn đầu, thừa nước gặp ở giai đoạn sau.

  • Rối loạn nhịp tim.

  • Tử vong khi tình trạng biến chứng nặng.

Nguồn Tổng Hợp